Muôn hình vạn trạng chuyện tìm vợ của các thái giám xưa
Lâu nay, nhắc tới thái giám, người ta đều nghĩ tới những người đàn ông không còn khả năng sinh dục, nam không phải mà nữ cũng không. Chính vì thế, có lẽ chuyện thái giám lấy vợ có lẽ nghe còn kỳ lạ hơn cả chuyện gà trống đẻ trứng. Tuy nhiên, việc thái giám tìm vợ lại là chuyện hoàn toàn có thật thậm chí là thời nào cũng có…
Thái giám tìm vợ đời nào cũng có
Theo những tài liệu sử sách còn được lưu lại tới ngày nay thì trường hợp thái giám lấy vợ sớm nhất là vào thời nhà Tần. Vị thái giám đi đầu cho “truyền thống tốt đẹp” của các thái giám Trung Quốc này không phải ai khác mà chính là Triệu Cao, viên thái giám đã làm thay đổi cả lịch sử của nước Tần. Triệu Cao từ nhỏ đã tự hoạn mình vào để xin vào cung làm thái giám.
Sau khi được sủng ái, có quyền lực trong tay, Triệu Cao bắt đầu lấy vợ và nhận con nuôi. Sách “Sử ký” phần “Lý Tư liệt truyện” từng nói rằng, con rể của Triệu Cao là Diêm Nhạc, nhậm chức Hàm Dương lệnh. Nếu như không có con, Triệu Cao làm sao mà có con rể được?
Tới thời Đông Hán, thế lực của hoạn quan trong triều đình ngày càng lớn mạnh vì vậy mới xuất hiện chuyện “thường thị (thái giám) cũng lấy vợ sinh con”, thậm chí là lấy vợ đẹp. Ngay cha ruột của Tào Tháo, Tào Tung cũng là con nuôi của Tào Đằng, một hoạn quan rất có thế lực trong triều đình lúc bấy giờ. Chính vì thế, sau này Tào Tháo mới thường bị khinh rẻ là con cháu của hoạn quan.
Từ đây có thể thấy việc thái giám lấy vợ, nuôi con là việc hoàn toàn không có gì lạ ở thời Đông Hán. Theo sử sách ghi chép lại, trong chốn hậu cung, hầu hết vợ của các thái giám cũng chính là các cung nữ trong hậu cung. Thời bấy giờ, triều đình còn có hẳn một chế độ dành riêng cho các cặp vợ chồng này, gọi là “đối thực”. Những cặp vợ chồng “đối thực” bao gồm một cung nữ và một thái giám sẽ ở nhà riêng, sống với nhau như vợ chồng.
Kể từ thời nhà Đường trở đi, việc thái giám lấy vợ càng trở nên phổ biến. Sách “Dã hoạch biên” có chép: Vào thời Đường Huyền Tông có thái giám là Cao Lực Sĩ do được Hoàng đế sủng ái, chức được phong tới Đại tướng quân, tước Bột Hải Quận công.
Các đại thần trong triều đình đều gọi Cao Lực Sĩ là “Ông” với hàm ý kính trọng, còn Đường Huyền Tông cũng đặc cách gọi Cao là “Tướng quân”. Có thể nói, dù là xuất thân hoạn quan nhưng uy danh của Cao Lực Sĩ trong triều đình không thua kém bất cứ ai.
Một lần, Cao Lực Sĩ nhìn thấy con gái của Lý Nguyên Ngộ, một quan đại thần trong triều xinh đẹp, thông minh, cử chỉ tao nhã thì thích lắm, bèn quyết định lấy về làm vợ. Sau đám cưới ít lâu, Lý Nguyên Ngộ đã được thăng chức làm Thiếu khanh, sau đó lại được thăng làm Thích sử. Ngoài Cao Lực Sĩ, thời Đường còn một thái giám nổi tiếng khác là Lý Phụ Quốc.
Cũng như Cao, Lý Phụ Quốc rất được Hoàng đế sủng ái, thậm chí còn tự đứng ra lấy con gái của đại thần Nguyên Trạc cho y làm vợ. Để đền bù cho Nguyên Trạc, Hoàng đế ít lâu sau đó đã thăng cho ông ta làm Lương Châu Thích sử.
Đến thời Ngũ Đại đã xảy ra một chuyện rất hy hữu. Số là hoàng đế triều Thục là Vương Diễn sau khi lên ngôi vua đã tư thông với con dâu của thái giám có tên là Vương Thừa Hưu. Thừa Hưu biết chuyện không những không giận mà còn xúi luôn vợ mình tới hầu hoàng đế. Hoàng đế vừa lòng, phong cho Vương làm Thiên Hùng Quân Tiết độ sứ.
Được phong chức, Vương vui vẻ đem cả gia đình tới Tần Châu. Tuy nhiên, sau khi Vương Thừa Hưu đi, Vương Diễn vẫn thấy luyến tiếc cô con dâu xinh đẹp nhà họ Vương. Do vậy, vào tháng 10 năm Càn Đức thứ 7 đời Tống Thái Tổ, tức năm 968, Vương Diễn đã lặn lội tới Tần Châu muốn nối lại tình xưa với con dâu của Vương Thừa Hưu.
Không ngờ, nhân cơ hội Vương Diễn không có tại kinh đô, vua Trang Tông nhà Hậu Đường đã phái quân tới tấn công nước Thục. Vương Diễn cả ngày chỉ say đắm bên người tình nên chẳng bao lâu thì nhà Thục đã bị nhà Hậu Đường tiêu diệt.
Tới thời nhà Minh, việc thái giám lấy vợ cũng khá thịnh hành. Sách “Nội giám” có chép rằng: “Thời Minh Thái Tổ (Chu Nguyên Chương), nội cung được quản lý rất nghiêm. Phàm là thái giám lấy vợ đều phải chịu tội lột da. Tuy nhiên, tới thời Anh Tông (Chu Kỳ Chấn) và Hiến Tông (Chu Kiến Thâm), việc vi phạm các phép tắc của Thái Tổ rất nhiều”. Từ đây, có thể thấy rằng, việc các thái giám lấy vợ ở thời Minh, càng về sau càng trở nên phổ biến hơn.
Sử sách chép rằng, triều đình nhà Minh cũng cho phép thái giám và cung nữ kết hợp với nhau làm vợ chồng, gọi là “Thái hộ”. Hoàng đế và hoàng hậu vẫn thường hỏi thái giám: “Thái hộ của ngươi là ai?” Cung nữ và hoạn quan được chọn thành một cặp thì cả đời sẽ không thay đổi.
Trong trường hợp có một người qua đời trước thì người kia sẽ không thể kết đôi với người nào khác nữa. Sách “Vạn Lịch Dã hoạch biên” có chép rằng: Ở một ngôi miếu bên ngoài thành có một phòng để để các bài vị của các cung nữ đã kết làm vợ chồng với thái giám nhưng lại qua đời sớm. Tới ngày giỗ của các cung nữ này, các thái giám được ra khỏi cung, mang lễ vật tới đây cung tế. Nhiều thái giám còn khóc lóc rất thương tâm, không khác gì với những cặp vợ chồng thông thường.
Hôn nhân đình đám của thái giám đời Thanh
Gần với thời hiện tại nhất chính là chuyện lấy vợ của “Tiểu An Tử”, thái giám rất được sủng ái của Từ Hy Thái hậu, bà thái hậu quyền lực bậc nhất trong giai đoạn tồn tại cuối cùng của triều Thanh. Tiểu An Tử là biệt hiệu của An Đức Hải, thái giám hầu cận của Từ Hy Thái Hậu, một con người nhỏ thỏ nhưng thông minh và rất giảo quyệt. Sử sách chép rằng: “An Đức Hải thông hiểu các loại sách kinh điển từ Luận Ngữ tới Mạnh Tử, đa tài đa nghệ”.
Điều này cho thấy, Tiểu An Tử hoàn toàn không phải là kẻ ngu dốt không có đầu óc. Từ năm 8 – 9 tuổi, An Đức Hải đã được tịnh thân đưa vào cung làm thái giám. Một vài năm sau đó, An Đức Hải trở thành ngự tiền thái giám của vua Hàm Phong (chồng của Từ Hy Thái hậu). Nhờ giỏi đoán ý chủ nhân, lại khéo léo nịnh bợ nên An Đức Hải rất được lòng cả hoàng đế Hàm Phong lẫn Hoàng hậu Na La thị (tức Từ Hy sau này).
Sau khi Hàm Phòng qua đời, rất nhanh chóng, An Đức Hải trở thành kẻ tâm phúc dưới trướng của Từ Hy. Nhiệm vụ chính của An Đức Hải lúc bấy giờ là làm “mật sứ” giữa Từ Hy và Cung Thân Vương, chạy đi chạy lại giữ Nhiệt Hà và Bắc Kinh giúp 2 người trao đổi những thông tin mật. Đó là những thông tin chuẩn bị cho cuộc chính biến Tân Dậu tiêu diệt Tiêu Thuận, Tải Viên, Đoan Hoa, đoạt lại quyền lực từ tay 8 vị cố mệnh đại thần.
Sau chính biến, Từ Hy trở thành người nắm giữ mọi quyền lực trong triều chính. Tiểu An Tử nghiễm nhiên trở thành một trong những người có công đầu, nên càng được Từ Hy thêm sủng ái và trong dụng. Chỉ trong một đêm, Tiểu An Tử từ một thái giám chạy việc vặt, trở thành Tổng quản Đại nội, cai quản mọi công việc của thái giám lẫn cung nữ trong hậu cung.
Là một kẻ thông minh và lanh lợi, Tiểu An Tử rất giỏi lấy lòng Từ Hy Thái hậu. Về khoản này, trong hậu cung không ai có thể sánh bằng thái giám họ An. Phàm là những gì Từ Hy thích, Tiểu An Tử sẽ tìm mọi cách thỏa mãn cho bằng được. Còn những gì Từ Hy đã ghét thì dù thế nào, Tiểu An Tử cũng sẽ phản đối.
Từ Hy Thái hậu cả đời rất thích xem kịch, vì thế Tiểu An Tử đã tự mình tổ chức xây dựng hẳn một nhà hát rất lớn ngay tại Tây Uyển, nơi Từ Hy thường xuyên ở nhất để chủ nhân có thể thoải mái xem kịch. Tiểu An Tử còn tập hợp một nhóm diễn viên rất giỏi, tổ chức tập các vở kịch để biểu diễn cho Từ Hy xem.
Tiểu An Tử còn đầu tư rất nhiều công sức để “tu luyện” thể loại “dâm kịch” (loại kịch khiêu dâm), một loại kịch mà Từ Hy đặc biệt thích xem. Chính vì thế, Tiểu An Tử được Từ Hy Thái hậu đặc biệt sủng ái. Sử sách chép rằng: “Thái hậu (Từ Hy) sủng ái An Đức Hải, không có lời nào có thể tả hết được”.
Tuy nhiên, sau đó, Tiểu An Tử vì dựa hơi Từ Hy, nhận tham nhũng, chạy chức chạy quyền, can dự vào những chuyện lớn của triều đình, chẳng kiêng nể gì ai. Ngay cả thân vương tông thất của Thanh triều cho tới các đại thần triều đình cũng phải nhường y vài phần.
Mùa đông năm Đồng Trị thứ 7, tức năm 1868, Tiểu An Tử đứng ra tổ chức một bữa tiệc long trọng tại tửu lầu lớn nhất Bắc Kinh có tên Nhất Phẩm Hương, mời tất cả các vương công đại thần trong triều đình. Hôm đó, Tiểu An Tử mình mặc mãng bào (lễ phục của quan lại Trung Quốc), đầu đội mũ lông công, đi đi lại lại chào mời quan khách, không khí tại Nhất Phẩm Hương náo nhiệt như có hội.
Hỏi ra mới biết, đó chính là ngày Tiểu An Tử đường đường chính chính kết hôn. Vợ của Tiểu An Tử là Mã Tiểu Ngọc, một mỹ nhân chuyên đóng vai đào trong ban hát của tỉnh Huy Châu (tỉnh An Huy, Trung Quốc), nghệ danh gọi là “Cửu Tuế Hồng” và mọi người vẫn thường gọi là “Mợ Mã”.
Từ năm 14 tuổi, Mã Tiểu Ngọc đã bắt đầu tham gia đoàn kịch, tới năm 16 tuổi đã được Tiểu An Tử đưa vào cung diễn hầu Từ Hy. Từ Hy xem Mã Tiểu Ngọc diễn thấy rất thích, còn trực tiếp ban thưởng một chiếc áo khoác ngoài của mình. Ngay từ ngày đầu tiên nhìn thấy Mã Tiểu Ngọc, Tiểu An Tử đã thèm tới nhỏ dãi.
Vì thế, Tiểu An Tử đã vừa dùng tiền dụ dỗ vừa dùng quyền thế của mình để dọa nạt, cuối cùng ép Mã Tiểu Ngọc phải lấy mình. Từ Hy nghe tin, không những không ngăn cản, ngược lại còn rất vui vẻ ban thưởng một ngàn lạng bạc trắng, một trăm cuộn tơ lụa làm quà để biểu thị sự sủng ái mà mình dành cho tên đầy tớ trung thành. Chuyện thái giám lấy vợ vì thế bắt đầu được lan truyền khắp cả thành Bắc Kinh.
Trên thực tế, triều đình Thanh triều có những quy định rất ngặt nghèo đối với thái giám. Từ thời Thuận Trị, sau khi nhà Thanh vào Trung Nguyên, đã lập một tấm bia bằng sắt, viết rõ rằng: “Một khi thái giám can dự chính sự, phạm pháp, tham nhũng, nhờ vả các nha môn, giao kết với quan lại Mãn Hán, vượt phận bẩm tấu việc bên ngoài thì ngay lập tức có thể xử lăng trì.
Nay lập thành bia sắt, để đời đời ghi nhớ mà thực hiện”. Tuy nhiên, tới thời Từ Hy thì những lời di huấn của tổ tiên gần như bị vứt bỏ. Do được Từ Hy quá sủng ái, Tiểu An Tử mặc sức lộng hành, dùng công danh lợi lộc làm mồi câu, lập bè kết đảng, cấu kết với các triều thần, can dự vào không ít chuyện triều chính, chẳng việc gì là không làm.
Tháng 7 năm Đồng Trị thứ 8, tức năm 1869, Tiểu An Tử cảm thấy ở Bắc Kinh quá tù túng, vì thế, muốn ra ngoài du sơn ngoạn thủy đồng thời thể hiện chút uy phong. Từ Hy chiều ý, phái Tiểu An Tử từ Bắc Kinh đi xuống các tỉnh phía nam chỉnh đốn công việc tu sửa đê điều. Được sự đồng ý của Từ Hy, Tiểu An Tử dương dương tự đắc, uy phong lẫm liệt rời khỏi Bắc Kinh.
Tuy nhiên, điều cả Tiểu An Tử lẫn Từ Hy không ngờ được là, Hoàng đế Đồng Trị, người vốn rất hận tên thái giám dựa hơi Từ Hy để lộng quyền này, sau khi nghe tin đã lập tức tới nói với Từ Hy, nếu như An Đức Hải dám rời khỏi Bắc Kinh thì lập tức chém đầu. Từ An Thái hậu, trước đây vốn là chính cung hoàng hậu, xét về thân phận còn cao hơn Từ Hy một bậc, cũng không thích Tiểu An Tử. Vì vậy, Từ An đã sai mật sứ của mình tới báo tin cho Đinh Ngọc Trinh, tuần phủ tỉnh Sơn Đông, lệnh cho Đinh tùy cơ hành sự, tìm cách giết cho bằng được thái giám An Đức Hải.
An Đức Hải mặc áo bào do Từ Hy tặng, tự cho mình là quan khâm sai do đích thân Từ Hy Thái hậu cắt cử, ngồi thuyền trang trí lộng lẫy xuôi về phía nam. Đi theo hầu còn có các quan binh, thái giám, cung nữ, tăng nhân tổng cộng mấy chục người, phải chia làm 2 thuyền, khí thế cực kỳ hùng dũng. Tuy nhiên, khi An Đức Hải vừa tới Đức Châu thì đã bị bắt và giả tới nha môn của quan Tuần phủ Tế Nam.
Đường đường là khâm sai của Từ Hy Thái hậu, chưa kịp giễu võ giương oai lại đã bị trói như lợn đem đi, An Đức Hải vừa sợ vừa giận, không ngừng chửi mắng. Quen thói cậy quyền cậy thế, những lời nói của An Đức Hải cũng khiến bọn lính canh sởn tóc gáy, chẳng ai dám động tới y, chỉ im lặng giải về nha môn theo lệnh chủ.
Tới nơi, Đinh Ngọc Trinh tự mình thẩm vấn An Đức Hải, nói: “Hoạn quan mà tự ý ra khỏi cung, đó không phải là pháp chế của tổ tiên. Trong khi đó, các đại thần chưa từng nghe có lệnh cho ngươi ra ngoài, rõ ràng là dối trá”. Nói xong, Đinh Bảo Trinh không đợi cho An Đức Hải kịp thanh minh, ra lệnh cho thuộc hạ đem An cùng hơn 20 người đi theo ra pháp trường chép đầu.
Thái giám yêu của mình bị một viên quan địa phương tùy tiện giết chết, đó là điều không thể chấp nhận đối với bà thái hậu quyền lực Từ Hy. Cũng từ đó, Từ Hy Thái hậu cực kỳ căm hận Từ An lẫn Hoàng đế Đồng Trị. Nhiều người nói rằng, sau này Từ Hy đã đầu độc giết chết Từ An cũng vì lý do này.
Tuy nhiên, điều quan trọng là, sau khi thời đại của Tiểu An Tử kết thúc thì cũng là lúc thời đại của Lý Liên Anh, tức “Tiểu Lý Tử” cũng bắt đầu. Tiếng xấu của viên thái giám họ Lý cũng không hề kém cạnh gì so với người tiền nhiệm An Đức Hải của y. Về Lý Liên Anh, sử liệu cũng chép rằng, vào thời kỳ đỉnh cao quyền lực, Lý Liên Anh có tới 4 cô vợ. Ngoài ra, y còn nuôi không ít con nuôi và đều là tay chân đắc lực.
Ngoài An Đức Hải và Lý Liên Anh, dưới thời cai trị của Từ Hy Thái hậu còn có một thái giám khác rất nổi tiếng tên là Tiểu Đức Trương. Sau khi Thanh triều bị lật đổ, Tiểu Đức Trương được ra khỏi hoàng cung là một người bình thường. Sau nhiều năm làm chức Tổng quản đại nội, tích lũy được một số tiền kha khá, Tiểu Đức Trương quyết định bỏ ra một khoản tiền lớn để mua một cô kỹ nữ tên là Trương Tiểu Tiên trong một kỹ viện tại Thiên Tân về làm vợ.
Ngoài cô vợ họ Trương, sau đó, Tiểu Đức Trương còn lấy không ít vợ bé. Những thái giám khác, sau khi rời khỏi cung cũng dùng số tiền tích cóp được đường đường hoàng hoàng lấy vợ. Có những người còn có tới 3 bốn vợ, ngoài ra còn có không ít hầu gái, a hoàn, chẳng khác gì một đại tài chủ.
Trong suy nghĩ của nhiều người, thái giám là những người bị hoạn, không có râu, giọng nói bị biến đổi, hành động cũng giống phụ nữ, nói chung, không thể coi là một người đàn ông đúng nghĩa được. Vì thế, không ai có thể nghĩ rằng, thái giám có thể lấy vợ. Tuy nhiên, việc lấy vợ của thái giám trong lịch sử phong kiến Trung Quốc là có thật và hoàn toàn không phải là chuyện lạ. Song, nói đi thì cũng phải nói lại.
Hầu hết những thái giám có cơ hội lấy vợ đều là những thái giám “quyền cao chức trọng”, hay nói theo ngôn ngữ là “thành phần tinh hoa”. Còn lại hầu hết các thái giám khác đều phải sống cả đời trong sự cô đơn, số phận cực kỳ bi kịch. Nói cách khác, trong số hơn 3000 thái giám trong Tử cấm thành thì số người có thể lấy vợ, nuôi con, sống như bậc vương giả chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay.
Theo Hôn nhân & pháp luật
HN&PL
.

Nhận xét
Đăng nhận xét